Đám ma tốn trăm trâu nghìn gà của quan lang xứ Mường


edit

18/06/20121nhận xét

Chưa hết 15 ngày mo, trên 100 con trâu, 150 con lợn và hàng nghìn con gà đã được thịt, cúng tiễn đưa lang Đá Quách Vị, người đứng đầu tỉnh Hòa Bình những năm đầu thế kỷ 20, về mường Ma. Lang Đá Quách Vị từng làm quan thông sự tri châu, phó tri châu, tri châu, án sát rồi liên tiếp hai khóa làm chánh quan lang - tuần phủ tỉnh Hòa Bình hồi đầu thế kỷ 20. Sau khi từ quan về lại quê nhà mường Vang, ông không ở trung tâm Chiềng Vang mà bỏ lên làng Pol thuộc đồi Thung, nơi núi rừng có độ cao trên 1.000 m so với mực nước biển, để sống những ngày cuối đời.
Lang Đá Quách Vị. 

Vào cuối mùa đông năm 1943, ông qua đời. Người già ở Chiềng Vang kể lại, vào một buổi sáng sớm cuối đông, trời rét như cắt da cắt thịt, khi bản làng còn chìm trong sương mù, bỗng nổi lên ba hồi trống đồng làm rung chuyển cả núi rừng báo tin lang Đá đã về mường Ma. Sau đó, các ậu lam, người giúp việc quan lang, cầm chiêng chót gõ từng hồi đi báo tin cho rõ đến các mường: “Chiềng Mường, chiềng xóm. Đêm qua lang Đá mường ta đã về mường Ma. Hỡi người các mường ơi! Hỡi bố mế, phà khà ơi! Lang Đá ta mất rồi! Bóng, bóng, bóng…”. Cứ thế, cái tin lang Đá về mường Ma được loan rộng, người người từ trong nhà chạy ra ngoài sân, hướng về phía nhà lang Đá mà khóc lóc, kể lể như chính cha mình chết. Rồi không ai bảo ai, họ thay quần áo, váy trắng, bỏ tóc xõa để đến nhà tang chủ mong được nhìn mặt vị lang Đá của mình lần cuối. Tại gian chính giữa nhà lang, một chiếc màn trắng buông trùm sập gụ chân quỳ khảm trai long, ly, quy, phượng. Hai cánh màn được mở rộng, lang Đá mặc áo gấm đỏ, đầu đội mũ cánh chuồn là những phẩm vật vua Bảo Đại ban. Từ trong màn thoảng ra một mùi đặc biệt của hoa, lá thơm của núi rừng. Từng đoàn người đi dọc theo dãy đồ đồng đặt trên sàn nhà mà đến quỳ lạy trước thi thể người quá cố. Ở dưới sân, người ta vừa khiêng một chiếc trống đồng rất to từ trong khu rừng mộ về, tượng trưng cho sự linh thiêng của linh hồn lang Đá. Chiếc trống này được mang lên nhà và phủ nhiễu đỏ. Hương nến được đốt lên để ông Mo cúng thần trống.
Chánh quan Lang Quách Vị ở cung đình Huế (người đứng giữa). 
Sau đó là bắt đầu 15 ngày đêm liên tiếp mo cho lang Đá lên mường Trời. Thời gian mo rất dài, mo liên tục không nghỉ, nên tất cả những ông mo giỏi trong vùng được triệu đến. Họ thay nhau đọc thuộc lòng những bài mo dài dằng dặc được truyền miệng từ nghìn xưa. Quan lang các vùng cùng tùy tùng vài chục người mỗi đoàn, dắt trâu, gánh xôi, gạo, rượu, thịt đến phúng viếng: “Thương ôi! Quan chánh lang của trăm đất, trăm miền đã về chầu phật, chầu tiên. Người mường chúng tôi lòng đau dạ xót. Hôm nay đến đây lạy người! Ô hô, thương ôi!”. Quan tri châu Quách Hàm là con trai trưởng đón lời: “…Đầu cha tôi quay về hướng Đông Bắc, nhìn ra tỉnh lỵ Hòa Bình. Sau 15 ngày đêm nghe mo kể nhòm mường lúc cuối lìa, nghe mo kể 'đẻ đất, đẻ nước', nghe chuyện 'nàng Nga hai mối', nghe cho đủ chuyện, đủ trò, rồi theo ông Mo dẫn lối, ậu Chí Chuốc gánh đồ về mường Ma đống Rổng phía Tây Bắc, đồi mường Chiềng ta đây”.
Đám ma lang Đá. 
Lang cả Quách Hàm dứt lời, các lang em cùng con cháu đồng thanh khóc lóc và lăn vào áo quan trong tiếng trống, kèn của 12 phường bát âm tấu lên các khúc sinh tiền, lưu thủy, hành vân… âm vang cả cánh đồng Chiềng Vang rồi vọng vào vách núi. Cứ thế cho đến đêm thứ 15, đêm mo cuối cùng và cũng là đêm con dân các mường còn được ở gần lang Đá của họ. Họ thức cả đêm chờ đến sáng hôm sau. Đêm ấy, hàng trăm ngọn nến được thắp lên, mấy chục ngọn đèn dầu lạc được đốt sáng. Trong ánh sáng bập bùng, hàng nghìn người tóc xõa, khăn trắng thắt ngang đầu với nét mặt buồn rười rượi ngồi kín sàn, đặc sân, ngõ, chờ thời khắc đưa lang Đá về mường Ma.
Khoảng 7 h hôm sau, một hồi “chiêng vàng, chiêng bạc” tấu lên cùng tiếng trống đồng trầm hùng rung động núi rừng, báo hiệu đã đến giờ đưa lang Đá về nơi an nghỉ cuối cùng. Một ông mo chính mặc áo dài đen, đầu đội mũ vuông bằng da hổ, tay cầm kiếm dài, cùng 6 ông mo phụ ngồi một bên gần quan tài, đối diện với bên kia là thân thích của người đã chết. Ông mo chính bắt đầu hâm mo để các mo phụ đứng lên, tang gia thôi khóc để nghe mo: “Bố Đá đi cam thương, cam khốn, cam khốn lại cam sầu, cam rầu rầu nước mắt chảy ra…”.

Hàng nghìn người đưa tiễn lang Đá về mường Ma. 
Giọng ông mo lên bổng, xuống trầm sao mà ai oán. Dứt lời, các bà vợ, con dâu, cháu chắt lại rộ lên tiếng khóc lâm ly, thảm thiết. Cả nghìn người có mặt cùng nghe các ông mo thay nhau kể đoạn cuối “Cơi tếch, cơi lia” (cõi đứt, cõi lìa). Các con cháu để tang cho đủ ba năm sáu tháng, mặc áo trái hết hạn mới thôi. “Nay là ngày tận, việc đêm mo đã hết”, ông Mo dứt lời, tiếng trống đồng khùng khùng chậm chạp nổi lên, tấu với cồng chiêng bong bong, bi bi cho đủ ba hồi, chín tiếng. Rồi cả nghìn người từ các lang đạo cho đến thứ dân, từ trên nhà sàn xuống đến sân ra đến ngõ xếp thành hàng chuyền tay nâng quan tài lang Đá. Cùng lúc tiếng khóc của nghìn người cất lên náo động cả núi rừng. Mười hai người đội vải căng ra làm cầu, 24 thanh niên trai tráng buộc dây chuối ở thắt lưng, nghe theo hiệu lệnh mà đứng thứ tự theo vị trí đã được xếp, mắt không rời bát nước đầy đặt trên đòn khiêng mà chuẩn bị cất bước. Dọc hai bên đường từ nhà đến nơi mộ huyệt là rất nhiều cây nêu và cờ, phướn bay phấp phới. Đến chân đồi nơi đặt nghĩa địa, chiêng chót phát lệnh đặt áo quan xuống và ông mo làm thủ tục cuối lìa. Con cháu đi quanh áo quan ba vòng theo ba hồi chiêng. Sau chiêng lệnh hồi một, đội phu đặt tay vào quan tài, hồi hai thì nâng lên vai, hồi ba thì bước lên đồi. Đến lúc này, bát nước đầy đặt trên áo nắp quan tài vẫn không sánh ra ngoài một giọt cho đến nơi hạ huyệt tại đống Rổng mường Vang.
Những hòn đá (hòn khụ) cao to bằng người thật được đục đẽo cẩn thận, chạm rồng mây, khắc chữ nho và khênh lên từ hôm trước được dựng thành hàng rào quanh phần mộ lang Đá. Lúc này là chính ngọ ngày 18/12/1943.


Xứ Mường Hòa Bình xưa có bốn mường: Bi, Vang, Thàng, Động với bốn dòng họ lớn: Đinh, Quách, Bạch, Hà nối đời làm lang cai quản. Đối với từng dòng họ, con trai trưởng làm lang cả, con trai thứ làm lang em, chia nhau đi ăn lang (cai quản) từng vùng. Toàn tỉnh có một hội đồng quan lang gồm 12 thành viên, đứng đầu là chánh quan lang, quyền thế như ông vua một vùng.
Năm 1883, bà Chu, vợ lang Cun (lang to) mường Vang Quách Tiết sinh ra người con trai và đặt tên là Quách Vị. Quách Vị ngay từ lúc ra đời đã có khuôn mặt rất đẹp nhưng lại không có cả hai vành tai. Sinh ra và lớn lên trong gia đình dòng dõi quan lang, Quách Vị được ăn học cẩn thận. Năm 1903, khi mới 20 tuổi, Quách Vị được bổ làm thông sự tri châu Lạc Sơn, 5 năm sau được thăng làm phó tTri châu, rồi tri châu Lạc Sơn…

Đám ma tốn trăm trâu nghìn gà của quan lang xứ Mường

+ nhận xét + 1 nhận xét

Đăng nhận xét

 
Liên hệ : Email: info@muong.org | Phone: 0988.410.459
Google+ Copyright © 2010-2013. Mường.org - All Rights Reserved
Mọi thông tin được tổng hợp từ internet và các thành viên
Mong các bạn đóng góp cho website ngày càng phát triển hơn